Trang chủ Sơ đồ Web Cơ hội nghề nghiệp Liên hệ
 
Công ty Cổ Phần Quản Lý Quỹ Rồng Việt

 

Địa chỉ liên lạc:
Tầng 8, toà Viet Dragon, 
141 Nguyễn Du, Phường Bến Thành, Quận 1, TPHCM
Tel: (84 8) 3 823 7791
Fax: (84 8) 3 823 7792
Email: info@vdfm.com.vn
Website:
www.vdfm.com.vn

Website Links
Liên hệ

Tel: (848) 3.8237791
Fax:(848) 3.8237792

Trang chủ >> "Tài chính"
"Tài chính"

17:12:03, 07/01/2008 

A.            Ngân hàng

Năm 1989 đánh dấu bước ngoặc quan trọng của ngành ngân hàng Việt Nam với việc lần đầu tiên xuất hiện các ngân hàng thương mại cổ phần. Từ năm 1998 – 2000, ngành ngân hàng bước vào giai đoạn khủng hoảng mà hệ quả là hàng loạt các ngân hàng cổ phần hoạt động kém hiệu quả bị sát nhập. Kể từ năm 2002, xu hướng phát triển mạnh mẽ và bền vững, nhất là khối ngân hàng cổ phần.

Một số đặc điểm của ngành ngân hàng Việt Nam:

·         Khối ngân hàng quốc doanh đóng vai trò chủ đạo. Dù đang dần suy giảm, nhưng đến cuối năm 2006, cả dư nợ cho vay lẫn huy động vốn của các NH TMNN vẫn chiếm khoảng 70% tổng dư nợ của toàn hệ thống (“Tương lai về NHTM NN” ,Tạp chí ngân hàng, 2006)

·         Khó xác định chính xác các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng do tính minh bạch và chuẩn mực công bố thông tin yếu kém, đặc biệt là khối ngân hàng quốc doanh. Các ngân hàng quốc doanh công bố tỷ lệ nợ xấu chiếm khoảng 8% tổng dư nợ vào năm 2001, đến năm 2004 con số này giảm còn 4%. Tuy nhiên theo ước tính của WorldBank con số trên có thể tăng lên 17 – 20% nếu áp dụng chuẩn mực quốc tế. (“Vietnam Banks Primer”, Deutsche Bank, 2007)

·         Dịch vụ ngân hàng kém phát triển, phần lớn doanh thu là từ hoạt động cho vay có tài sản thế chấp. Hệ thống dịch vụ đơn giản và sơ khai, tính liên kết giữa các dịch vụ còn thấp. Hiện một số ngân hàng như Vietcombank, DongABank, Eximbank phát triển khá mạnh hoạt động kiều hối, bảo lãnh… và tạo nguồn thu đáng kể từ những hoạt động này, nhưng nhìn chung doanh thu từ phí dịch vụ, thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán, quản lý tài sản... vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng doanh thu.

·         Phát triển ứng dụng tin học còn tụt hậu so với các nước trong khu vực trong khi công tác quản lý rủi ro vẫn chưa được quan tâm đúng mức. (“Một số vấn đề đặt ra cho việc đào tạo CNTT trong ngành NH”, Đại học KHTN TpHCM, 2004)

 

Nguồn: ADB 2007 và dự báo của VDFM

Triển vọng phát triển

·         Việt Nam có khoảng 6 triệu tài khoản ngân hàng, trong đó 5 triệu là tài khoản cá nhân, khá thấp so với lượng khách hàng tiềm năng khoảngC 20 triệu người. Giao dịch tiền mặt vẫn chiếm khoảng 50% số giao dịch. Dự báo, tín dụng tiêu dùng và thẻ tín dụng là những lĩnh vực còn nhiều tiềm năng tăng trưởng.

·         Các ngân hàng thương mại hiện cung ứng khoảng 300 dịch vụ, trong khi các ngân hàng quôc tế đã có khoảng 3.000 dịch vụ.

·         Nền kinh tế phát triển đã đẩy mạnh nhu cầu về đầu tư hạ tầng và phát triển sản xuất kinh doanh. Ước tính hệ thống ngân hàng mới chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu vốn của các doanh nghiệp. Tổng dư nợ của toàn hệ thống năm 2006 đạt 71% GDP, khá thấp so với một số nước trong khu vực.

Như vậy, có thể thấy, nhu cầu dịch vụ ngân hàng vẫn còn rất lớn và ngày càng mở rộng với sự phát triển của nền kinh tế.

Nguồn: Credit Suisse, “Bank for foreign trade of VN”07

Nguồn: ADB 2007 dự báo của VDFM

 

 

B.            Chứng khoán

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam chính thức được hình thành vào tháng 07/2000 với sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.HCM (HoSTC) với phiên giao dịch đầu tiên chỉ có 2 loại cổ phiếu là REE và SAM. Sau 05 năm, TTCK Việt Nam có thêm 01 Trung tâm giao dịch thứ cấp là TTGDCK Hà Nội (HASTC).

Đặc điểm ngành dịch vụ chứng khoán

·         Đua nhau thành lập công ty chứng khoán. Sau hơn 5 năm, thị trường mới chỉ có 13 công ty chứng khoán thành lập và hoạt động. Nhưng kể từ khi thị trường chứng khoán bùng nổ vào cuối năm 2006, số lượng công ty chứng khoán đua nhau thành lập mới ngày càng tăng, hứa hẹn giai đoạn canh tranh khốc liệt.

·         Tự doanh đóng vai trò quan trọng. Hầu hết các công ty chứng khoán đều có lãi và tăng trưởng rất cao, nhưng đa phần đều xuất phát từ hoạt động tự doanh. Các hoạt động còn lại chủ yếu bù đắp chi phí, chỉ một số công ty lớn mới có lãi.

·         Sản phẩm dịch vụ khá sơ khai. Hoạt động môi giới hầu như chỉ với cổ phiếu niêm yết và cũng chỉ dừng ở mức độ thực hiện giao dịch. Môi giới OTC ít được triển khai và chỉ giới hạn trong vài loại cổ phiếu mà các công ty quen thuộc. Hoạt động tư vấn tài chính thiên về hướng thực hiện thủ tục liên quan đến phát hành cổ phần của doanh nghiệp. Dù bảo lãnh phát hành được đẩy mạnh và một số công ty xem là chiến lược quan trọng, nhưng để hoạt động tư vấn tài chính phát triển thành sản phẩm thực thụ như các thị trường phát triển dường như vẫn còn khá xa. Bắt đầu xuất hiện sản phẩm phân tích của một số công ty nhưng sức thuyết phục và ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán là một dấu hỏi lớn. 

·         Khan hiếm nguồn nhân lực. Việc liên tục thành lập các công ty chứng khoán mới đòi hỏi phải có đội ngũ nhân sự có chứng chỉ hành nghề và trình độ chuyên môn. Trong khi nguồn nhân lực chứng khoán còn hạn chế đã dẫn đến hiện tượng giành giật nhân sự giữa các công ty chứng khoán với nhau, và với các lĩnh vực liên quan.

·         Hạ tầng công nghệ cần phải được đầu tư. Hệ thống hạ tầng công nghệ của các công ty chứng khoán hiện không theo kịp sự phát triển của thị trường. Do vậy ngoài tiềm lực tài chính, công nghệ sẽ là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán với nhau.

Triển vọng phát triển

·         Thị trường chứng khoán phát triển được hơn 7 năm, khá non trẻ so với các lĩnh vực tài chính khác như ngân hàng và bảo hiểm, và càng không thể so sánh với các nước trong khu vực. Như vậy, tiềm năng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam còn rất lớn.

·         Số lượng tài khoản chứng khoán tuy tăng trưởng mạnh nhưng mới chỉ đạt hơn 240.000 tài khoản, quá thấp nếu so với số dân thành thị (chiếm khoảng ¼ dân số Việt Nam) và so với số tầng lớp trung lưu hiện có.

·         Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn được đánh giá là hấp dẫn về dài hạn. Kết hợp với việc các tập đoàn kinh tế lớn sắp được cổ phần hóa, một lượng tiền khá lớn từ các tổ chức đầu tư tài chính nước ngoài sẽ đổ vào thị trường Việt Nam, đem lại lợi ích không nhỏ cho các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán. Ngoài ra, do lĩnh vực chứng khoán chưa mở cửa hoàn toàn nên các công ty trong nước còn được hưởng lợi thế trong một thời gian.

·         Doanh số giao dịch của cả HoSTC và HaSTC ngày càng tăng, nhưng vẫn chưa thể sánh được với quy mô giao dịch OTC hiện tại. Dự đoán, khi thị trường OTC được quản lý và giao dịch tập trung sẽ đem lại nguồn thu không nhỏ cho các công ty chứng khoán

 

Nguồn: Nhà quản lý (27/11/2005), Vietnam Net (2007) và dự báo của VDFM.

C.            Bảo hiểm

Ngành bảo hiểm Việt Nam thật sự chuyển biến từ năm 1989 với việc chuyển Công ty Bảo hiểm Việt Nam thành Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và nới rộng thị trường cho các thành phần kinh tế khác tham gia vào lãnh vực kinh doanh bảo hiểm. Từ chỗ chỉ có duy nhất một công ty là Bảo Việt, đến năm 2007 đã có 37 công ty hoạt động ở tất cả các lãnh vực kinh doanh của ngành.

Nguồn: Credit Suisse (2007) và BVI (BCB 2007)

·         Khác biệt về thị phần giữa bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Do thị trường phi nhân thọ chưa mở rộng cửa, nên các doanh nghiệp trong nước chiếm đến 95% thị phần, 05 doanh nghiệp nước ngoài chia nhau số thị phần còn lại. Ngược lại, các doanh nghiệp nước ngoài chiếm hơn 60% thị phần bảo hiểm nhân thọ.

·         Sản phẩm mới mang tính cánh mạng chưa phổ biến. Bảo hiểm nhân thọ có hơn 100 sản phẩm nhưng đều xuất phát từ những loại hình cơ bản như bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trọn đời và niên kim. Bảo hiểm phi nhân thọ có khoảng 700 sản phẩm khác nhau, nhưng không có sự khác biệt nhiều giữa các doanh nghiệp.

Triển vọng phát triển

Kinh tế tăng trưởng kéo theo sự tăng tốc mạnh của các ngành như thương mại, hàng không, du lịch, khai thác và vận tải biển… là thị trường tiềm năng của bảo hiểm phi nhân thọ.

Ảnh hưởng từ tập quán mua bảo hiểm của các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng lan rộng trong khối kinh tế - xã hội.

Thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng, đặc biệt là tại các thành phố lớn. Theo nguyên cứu, phí bảo hiểm bình quân đầu người của các quốc gia luôn tăng tỷ lệ thuận với thu nhập bình quân đầu người. Ngoài ra, với dân số 84 triệu người, trong đó 60% dưới 30 tuổi, nhiều khả năng nguồn lao động trẻ này sẽ hiểu và tận dụng được tiện ích của các sản phẩm bảo hiểm (Asia Development Bank, 2007)

Tỷ trọng phí bảo hiểm trong GDP của Việt Nam khá thấp so với các nước trong khu vực. Với tiềm năng phát triển kinh tế hiện tại, có thể thấy nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm là rất lớn và chưa được thỏa mãn đầy đủ.

Nguồn: Credit Suisse (2007), Swiss Re Sigma (1/2007) và VDFM tổng hợp

 

» "Năng lượng" (21/02/2008)
» "Thực phẩm đồ uống" (21/02/2008)
» "Bán lẻ" (21/02/2008)
» "Dược Phẩm" (26/02/2008)
» "Vận tải" (25/02/2008)

Bottom
Copyright 2007 © VDFM
All rights reserved
Visitors: 53384
    Trang chủ       |      Giới thiệu      |      Thông tin       |      Sơ đồ Web      |       Liên hệ    
Website design by Webvietdesigns